Sonny Rollins - nghệ sĩ kèn saxophone tenor vĩ đại bậc nhất thời đại này, với những âm sắc táo bạo, đặc trưng và không ngừng thử nghiệm suốt gần 70 năm sự nghiệp - vừa qua đời hôm thứ Hai 25/5 ở tuổi 95.
Người phát ngôn của Rollins cho biết ông qua đời tại nhà riêng ở Woodstock, New York, Mỹ. Bà không nêu rõ nguyên nhân cái chết, nhưng Rollins đã phải ở nhà trong vài năm qua do nhiều vấn đề sức khỏe.
Không ngừng hoàn thiện
Từ những ngày đầu sự nghiệp là thần đồng tuổi teen cho đến những tác phẩm solo chín chắn hơn và những thử nghiệm với thể loại free jazz sau này, Sonny Rollins luôn được tôn kính vì kỹ năng ứng tấu điêu luyện của mình.
Ông là một trong những nghệ sĩ vĩ đại cuối cùng của kỷ nguyên bebop (kỷ nguyên gắn với cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử nhạc jazz, diễn ra chủ yếu từ đầu những năm 1940 đến giữa những năm 1950). Và cùng với John Coltrane và Charlie Parker, ông là một trong những nghệ sĩ saxophone có ảnh hưởng nhất thời bấy giờ.

Huyền thoại saxophone Sonny Rollins
Người hâm mộ nhạc rock đã được thưởng thức âm nhạc của ông qua album Tattoo You (1981) của The Rolling Stones. Trong đó, ông chơi đoạn solo saxophone đầy cảm xúc ở bản ballad Waiting on a Friend, được sáng tác sau khi xem giọng ca chính Mick Jagger nhảy.
Dù luôn đứng ở vị trí đỉnh cao, Rollins chưa bao giờ thực sự hài lòng với nghệ thuật của mình. Thỉnh thoảng, ông tạm ngừng chơi nhạc trong thời gian dài và liên tục tiếp thu những phong cách mới đa dạng.
Ông luôn tự gọi mình là "một tác phẩm đang trong quá trình hoàn thiện", rằng ông không phải là kiểu nghệ sĩ an phận với một lối chơi duy nhất.
Mặc dù những tác phẩm bebop thời kỳ đầu của ông được người hâm mộ yêu thích nhất, Rollins chưa bao giờ nhìn lại quá khứ. Thậm chí, ông cảm thấy "thống khổ" khi phải nghe lại những khuyết điểm trong các bản thu âm cũ của mình. "Tôi thấy mình chưa học hỏi được nhiều như tôi mong muốn" - ông tâm sự vào năm 2007.
Gặp gỡ những huyền thoại
Theodore Walter Rollins sinh năm 1930, trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Cha ông - một hạ sĩ quan hải quân - chơi kèn clarinet, chị gái ông chơi piano, và anh trai ông là nghệ sĩ violin. Khu Harlem mà gia đình ông sống khi đó cũng là nơi ở của nhiều nhạc sĩ vĩ đại.
Khi ông 8 tuổi, cha mẹ ông nhất quyết muốn ông học piano, nhưng ông đơn giản là "không thích". Thay vào đó, ông thích chơi bóng chày ngoài trời hơn.
Thế mà, đến năm 11 tuổi, Rollins đã say mê kèn saxophone và đòi cha mẹ mua cho mình một cây - loại alto. Thần tượng của ông lúc đó chính là người hàng xóm - nghệ sĩ saxophone tenor Coleman Hawkins, người được coi là nghệ sĩ đầu tiên, vào những năm 1920, biến nhạc cụ này thành giọng solo trung tâm trong các ban nhạc jazz.

Sonny Rollins luyện tập suốt 2 năm trên cầu Williamsburg
Do không có tiền trả học phí, Rollins chủ yếu tự học. Thế nhưng, bằng tài năng phi thường, ông vẫn nhanh chóng trở thành ngôi sao. Sau đó, ông chuyển qua loại tenor - lớn hơn alto - và thường được mời biểu diễn tại các hộp đêm.
Rollins có bước đột phá lớn đầu tiên vào cuối tuổi thiếu niên khi được mời tham gia ban nhạc của Thelonious Monk. Ông sớm được chơi nhạc cùng những huyền thoại sau này là Miles Davis và Bud Powell. Và cũng chính những người này đã giới thiệu ông đến với thế giới thu âm, thậm chí trước cả khi ông tốt nghiệp trung học.
Nhưng giống như nhiều nhạc sĩ jazz khác vào cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, sự nghiệp đang lên của Rollins suýt nữa đã lụi tàn vì nghiện ngập. Năm 1954, Rollins tự nguyện vào bệnh viện ở Lexington, Kentucky, để điều trị cai nghiện.
Và ông đã trải qua một sự thức tỉnh tâm linh khi cai nghiện thành công. "Tôi bắt đầu có triết lý sâu sắc hơn về ý nghĩa của cuộc sống" - ông nói vào năm 2007 - "Từ thời điểm đó trở đi, ý thức của tôi đã thức tỉnh".
Sau khi xuất viện, ông trở về Chicago và gia nhập nhóm ngũ tấu Max Roach của thần đồng Clifford Brown. Năm 1956, ông thu âm album solo Saxophone Colossus. Âm thanh hard bop tối giản của album đã đưa ông trở thành một trong những nghệ sĩ saxophone hàng đầu của nhạc jazz và tới nay vẫn là một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất của ông.

Sonny Rollins (phải) tái hợp cùng bạn cũ, huyền thoại Miles Davis tại The Newport Jazz Festival năm 1957
Trong hai năm tiếp theo, Rollins đã tìm ra được hướng đi khác, chuyển sang chơi nhạc cùng tam tấu không có piano trong ba album cũng mang tính bước ngoặt là Way Out West (1957), A Night at the Village Vanguard (1958) và Freedom Suite (1958).
Trong đó, A Night at the Village Vanguard không chỉ là một cột mốc quan trọng trong lịch sử nhạc jazz, mà nó còn tạo ra một khuôn mẫu, thậm chí là một thể loại, mà đến tận ngày nay vẫn là thách thức với các nghệ sĩ saxophone.
Thế nhưng, ở đỉnh cao sự nghiệp, Rollins lại lui về sống ẩn dật, bị dày vò trong nỗi hoài nghi về bản thân. Trong suốt hai năm, ông luyện tập một mình - thường là 14 tới 15 giờ mỗi ngày - trên lối đi bộ của cầu Williamsburg, phía trên East River ở New York.
"Điều tôi tự hào nhất trong sự nghiệp của mình là việc tôi có thể nhìn xa hơn sự nổi tiếng và tất cả những thứ như thế, để làm theo những gì tiếng lòng mách bảo tôi phải làm" - ông nói năm 2007.
Trong thời gian ông vắng mặt, nhạc jazz đã chuyển từ âm thanh nhanh, chặt chẽ của bebop sang free jazz sôi nổi và hỗn loạn hơn. Khi Rollins quyết định trở lại sân khấu vào năm 1961, ông thoải mái đón nhận âm thanh mới. Động thái này đã gây chia rẽ mạnh mẽ trong cộng đồng người hâm mộ của ông.
Nhưng album ông thu âm sau đó, The Bridge (1962), không phải sự đoạn tuyệt hoàn toàn với phong cách cũ, mà đã đưa khả năng độc tấu và ứng tấu của ông lên tầm cao mới.
Giữa những năm 1960, Rollins đã có nhiều chuyến lưu diễn ở châu Âu, luân phiên giữa phong cách truyền thống và tiên phong. Ông cũng đóng góp nhạc phẩm cho Alfie (1966) - bộ phim đã đưa Michael Caine lên thành ngôi sao.
Trong một chuyến đi đến Nhật Bản, Rollins khám phá ra Thiền Phật giáo. Sau khám phá tinh thần lớn lao này, ông quay lại với cuộc sống ẩn dật, kéo dài đến đầu những năm 1970.
"St. Thomas" - hit kinh điển bậc nhất của Sonny Rollins:
Không còn trăn trở nữa
Khi Rollins quyết định thu âm trở lại vào năm 1972, ông đã được coi là huyền thoại, được công chúng đón nhận rộng rãi. Cũng năm đó, ông được trao Học bổng Guggenheim - một trong những tài trợ danh giá và lâu đời nhất thế giới, dành cho cá nhân xuất chúng. Năm sau, ông được vinh danh vào Đại sảnh Danh vọng Downbeat dành riêng cho các huyền thoại jazz. Ông xuất hiện trên chương trình Tonight Show và bắt đầu biểu diễn tại các phòng hòa nhạc thay vì các hộp đêm.
Trong những năm 1990 và 2000, Rollins đã phát hành một loạt album được giới phê bình đánh giá cao. Album năm 2001 của ông, This Is What I Do, đã mang về cho ông giải Grammy cho Album nhạc jazz không lời hay nhất. Ông tiếp tục giành chiến thắng vào năm 2006 cho Màn trình diễn solo nhạc jazz không lời xuất sắc nhất với ca khúc Why Was I Born?.

Sonny Rollins (đứng giữa ở ảnh trái) trong một buổi sáng mùa Hè năm 1958 ở Harlem, cùng 56 nhạc sĩ jazz khác, là những người có ảnh hưởng lớn nhất trong Kỷ nguyên Vàng nhạc jazz
Why Was I Born? nằm trong album Without a Song: The 9/11 Concert - bản thu âm trực tiếp từ buổi biểu diễn ở Boston, chỉ bốn ngày sau vụ tấn công kinh hoàng ngày 11/9/2001. Rollins - người đã được sơ tán khỏi căn hộ của mình, cách khu vực bị không tặc chỉ vài dãy nhà - đã tiếp tục buổi hòa nhạc theo lời khuyên của vợ kiêm quản lý của ông, Lucille.
Trong những năm sau đó, dù tuổi đã cao, ông vẫn duy trì chế độ luyện tập nghiêm ngặt và tiếp tục lưu diễn cho đến khi ngoài 80 tuổi. Chỉ có bệnh xơ phổi mới buộc ông phải nghỉ hưu. Ông chơi buổi hòa nhạc cuối cùng vào năm 2012 và ngừng chơi nhạc hoàn toàn vào năm 2014.
Dù nhớ sự ngưỡng mộ của khán giả, nhưng điều khiến ông đau đáu hơn cả là nỗi nhớ được chơi nhạc. "Hồi đầu, tôi có chơi vài buổi hòa nhạc ở không gian ngoài trời vào buổi chiều" - ông kể vào năm 2020 - "Tôi có thể nhìn lên bầu trời và cảm nhận được sự kết nối. Tôi cảm thấy mình là một phần của điều gì đó. Không phải đám đông, mà là một điều gì đó lớn lao hơn".
Trong sự nghiệp của mình, Rollins đã phát hành hơn 60 album. Dù vậy, ông vẫn còn để lại nhiều bản thu âm chưa phát hành. Thế nhưng, ông không có ý định để lại chỉ dẫn về việc phải làm gì với chúng.
"Sau khi tôi rời khỏi hành tinh này, tôi sẽ không còn tiếng nói về những điều đang diễn ra. Vì vậy, tôi không lo lắng" - ông nói vào năm 2020 - "Nói thật là tôi từng trăn trở rất nhiều về âm nhạc của mình. Nhưng giờ đây, tôi sẽ không còn phải trăn trở về nó nữa. Tạ ơn Chúa".
10 album kinh điển của Sonny Rollins
1. Saxophone Colossus (1956)
2. A Night at the Village Vanguard (1957)
3. Way Out West (1957)
4. The Bridge (1962)
5. Tenor Madness (1956)
6. Freedom Suite (1958)
7. Newk's Time (1958)
8. Sonny Side Up (1957)
9. East Broadway Run Down (1966)
10. Without a Song: The 9/11 Concert (2005)